banner

An sinh xã hội đối với Phụ nữ Việt Nam nhìn từ giác độ bình đẳng giới và hàm ý chính sách

Hệ thống chính sách, pháp luật về BHXH của Việt Nam ngày càng cải thiện về khía cạnh bảo đảm và thúc đẩy bình đẳng giới.

Ảnh minh họa

 Tham gia của phụ nữ trong thị trường lao động

Theo số liệu thống kê, năm 2020, số lao động nữ có việc làm là gần 25,3 triệu người, chiếm 47,2% tổng số lao động có việc làm cả nước, gần tương đương với tỷ lệ nữ trong lực lượng lao động là 47,4%. Tỷ lệ lao động có việc làm của nữ luôn thấp hơn so với tỷ lệ này ở nam. Tuy nhiên, khoảng cách giới hầu như không thay đổi trong suốt giai đoạn 2012-2019, nhưng đến năm 2020 do ảnh hưởng của Covid-19, số lao động nữ và nam có việc làm đều giảm so với năm 2019 và khoảng cách giới có xu hướng giãn ra.

Việc làm của lao động nữ mặc dù có sự dịch chuyển tích cực giữa các nhóm nghề nghiệp, tuy nhiên lao động nữ vẫn chiếm tỷ trọng cao ở những nghề “lao động giản đơn”, “nhân viên dịch vụ và bán hàng”. Theo số liệu điều tra lao động việc làm năm 2020, lao động nữ chiếm tỷ lệ cao nhất ở 2 nhóm nghề “lao động giản đơn” với 35,9% và “nhân viên dịch vụ và bán hàng” với 23,2%; trong khi đó, tỷ lệ này tương ứng ở lao động nam là 31,1% và 13,3%. Tỷ lệ lao động nữ có chuyên môn bậc cao tăng  từ 5,8% (năm 2012) lên 9,3%, trong khi đó, tỷ lệ này tương ứng ở lao động nam là 5,2% và 6,9%.

Tình hình thất nghiệp

Năm 2020, cả nước có hơn 691 ngàn lao động nữ thất nghiệp, chiếm 56,1% tổng số người thất nghiệp và tăng 161 ngàn lao động so với năm 2019.

Giai đoạn 2013-2017 tỷ lệ thất nghiệp nữ luôn thấp hơn nam, nhưng đến giai đoạn 2018-2020 tỷ lệ thất nghiệp của nữ lại cao hơn nam. Năm 2020 tỷ lệ nữ thất nghiệp là 2,66% cao hơn +0,78 điểm % so với lao động nam. Tính chung giai đoạn 2012-2020, số lao động nữ thất nghiệp có xu hướng tăng nhanh hơn so với lao động nam với tốc độ tăng bình quân hàng năm là 2,96%/năm.

          Cũng như ở các nước khác trên thế giới, phụ nữ Việt Nam là một trong những nhóm dễ bị tổn thương chịu ảnh hưởng nặng nề nhất bởi Covid-19(). Trong báo cáo của ILO (2020) đã đưa ra 5 nhóm đặc biệt dễ bị tổn thương nhất khi dịch Covid-19 xảy ra, trong đó có 4/5 nhóm phần lớn là phụ nữ làm việc, gồm:

          Thanh niên - những người vốn luôn phải đối mặt với tỷ lệ thất nghiệp và thiếu việc làm cao hơn, giờ đây trở nên dễ bị tổn thương hơn với sự sụt giảm cầu lao động.

          ILO ước tính rằng 58,6 % phụ nữ làm việc trong ngành dịch vụ trên toàn thế giới, trong khi tỷ lệ này ở nam giới là 45,4 %. Phụ nữ cũng ít có khả năng tiếp cận với các dịch vụ an sinh xã hội (ASXH) và sẽ chịu gánh nặng nhiều hơn đối với các việc liên quan đến chăm sóc, trong trường hợp trường học hoặc hệ thống chăm sóc sức khỏe phải đóng cửa.

          Những người lao động không được bảo vệ, bao gồm lao động tự làm, lao động làm việc không thường xuyên và làm các công việc tạm thời có khả năng phải chịu thiệt thòi nặng nề từ loại vi-rút này, vì họ ít được bảo vệ bởi các cơ chế ASXH thông thường.

          Lao động di cư đặc biệt dễ bị ảnh hưởng bởi cuộc khủng hoảng Covid-19, điều này sẽ hạn chế cả khả năng tiếp cận nơi làm việc của họ ở các quốc gia tiếp nhận và khả năng trở về với gia đình.

Chính sách, pháp luật về bảo hiểm xã hội

Hệ thống chính sách, pháp luật về BHXH của Việt Nam ngày càng cải thiện về khía cạnh bảo đảm và thúc đẩy bình đẳng giới. Luật BHXH sửa đổi (Luật BHXH năm 2014) có một số quy định mới khá tiến bộ về đảm bảo nguyên tắc bình đẳng giới, như:

- Quy định về mở rộng đối tượng tham gia BHXH tạo điều kiện cho nhiều nhóm lao động nữ yếu thế trong thị trường lao động có cơ hội được tham gia BHXH.

Luật BHXH quy định về đối tượng tham gia BHXH bắt buộc đã mở rộng hơn so với Luật BHXH năm 2006, như “Người làm việc theo hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn từ đủ 03 tháng đến dưới 12 tháng” và “Người làm việc theo hợp đồng lao động có thời hạn từ đủ 01 tháng đến dưới 03 tháng”. Đối với công dân Việt Nam từ đủ 15 tuổi trở lên và không thuộc đối tượng tham gia BHXH bắt buộc thì có thể tham gia BHXH tự nguyện. Bộ luật Lao động năm 2019 quy định người sử dụng lao động phải “trả cho người giúp việc gia đình khoản tiền BHXH, BHYT theo quy định của pháp luật để người lao động chủ động tham gia BHXH, BHYT”.

Việc mở rộng đối tượng tham gia BHXH đã tạo điều kiện cho người lao động chủ động, linh hoạt hơn trong lựa chọn nơi làm việc; dễ dàng hơn trong di chuyển, chuyển đổi việc làm giữa các khu vực, thành phần kinh tế. Điều này mang lại nhiều lợi ích cho người lao động nam và nữ đang nuôi con nhỏ, lao động nữ trong thời gian mang thai, sinh con, tạo điều kiện thuận lợi để họ duy trì việc làm và duy trì tham gia BHXH phù hợp với nhu cầu và điều kiện thực tế của bản thân và gia đình.

- Chính sách khuyến khích, hỗ trợ người lao động tham gia BHXH tự nguyện nhằm thúc đẩy đối tượng tham gia.

Với BHXH tự nguyện, cơ chế tham gia chỉ có duy nhất bản thân người lao động đóng BHXH. Nhà nước đã có một số cơ chế khuyến khích để thu hút người lao động tham gia BHXH tự nguyện: (i) lựa chọn phương thức đóng phù hợp với nhu cầu và điều kiện cá nhân; (ii) được Nhà nước hỗ trợ tiền đóng theo tỷ lệ phần trăm trên mức đóng hằng tháng theo mức chuẩn hộ nghèo khu vực nông thôn. Thời gian hỗ trợ tùy thuộc vào thời gian tham gia BHXH tự nguyện thực tế của mỗi người, nhưng không quá 10 năm (120 tháng); (iii) khuyến khích các cơ quan, tổ chức và cá nhân hỗ trợ tiền đóng BHXH cho người tham gia BHXH tự nguyện.

- Giảm dần khoảng cách tuổi nghỉ hưu giữa lao động nam và lao động nữ.

Bộ luật Lao động năm 2019 quy định điều chỉnh tăng tuổi nghỉ hưu và thu hẹp khoảng cách tuổi nghỉ hưu của nam và nữ. Tuổi nghỉ hưu của nữ sẽ tăng thêm 5 năm trong khoảng thời gian 15 năm (mỗi năm tăng thêm 4 tháng tính từ 2021 đến 2035), với nam tăng thêm 2 năm trong khoảng thời gian 8 năm (mỗi năm tăng thêm 3 tháng tính từ 2021 đến 2028).

- Chế độ thai sản của Việt Nam là một trong số những hệ thống có lợi nhất cho lao động nữ so với các nước trong khu vực về thời gian nghỉ và tỷ lệ hưởng.

Chế độ thai sản tuân thủ Công ước số 102 của ILO về các tiêu chuẩn tối thiểu, trong đó quy định trợ cấp tiền mặt định kỳ trong 12 tuần với mức trợ cấp bằng 45% mức tiền lương tham chiếu; tuân thủ Công ước số 183 (2000) về Bảo vệ bà mẹ quy định 14 tuần nghỉ thai sản với mức trợ cấp bằng 2/3 thu nhập trước khi nghỉ thai sản và tuân thủ Khuyến nghị số 191 về Bảo vệ bà mẹ quy định 18 tuần nghỉ thai sản nhận trợ cấp bằng 100% mức thu nhập trước khi nghỉ thai sản. (ILO, 2021). Luật BHXH năm 2014 quy định thời gian lao động nữ sinh con được nghỉ việc hưởng chế độ thai sản trước và sau khi sinh con là 6 tháng. Quy định về mức hưởng chế độ dưỡng sức, phục hồi sức khỏe sau thai sản một ngày bằng 30% mức lương cơ sở. Các quy định này mang lại lợi ích cho lao động nữ khi sinh con có thêm thời gian phục hồi sức khỏe, đồng thời tạo điều kiện cho việc nuôi con bằng sữa mẹ trong thời gian dài hơn.

Bên cạnh đó, Luật BHXH năm 2014 quy định lao động nữ có thể đi làm trước khi hết thời hạn nghỉ sinh con khi đáp ứng đủ các điều kiện quy định; họ sẽ được đồng thời hưởng tiền lương của những ngày làm việc và chế độ thai sản cho đến hết thời hạn theo quy định (6 tháng).

Những hạn chế về bình đẳng giới trong hệ thống chính sách, pháp luật về BHXH hiện hành

- Quy định về điều kiện hưởng BHXH một lần hiện tại khá dễ dàng. Đặc biệt quy định về trường hợp người lao động yêu cầu hưởng BHXH một lần sau 1 năm nghỉ việc (dừng đóng BHXH) hoặc sau 1 năm không tiếp tục tham gia BHXH tự nguyện mà chưa đủ 20 năm đóng BHXH. Trong trường hợp này, quy định mức hưởng trợ cấp BHXH một lần bằng 1,5 đến 2 lần mức bình quân tiền lương tháng đóng BHXH cho mỗi năm đóng BHXH là khá hấp dẫn so với quy định về mức đóng BHXH của người lao động. Có một thực tế, một bộ phận lao động nữ nông thôn, lao động nữ di cư thường có những khoảng thời gian gián đoạn, tạm dừng công việc làm công hưởng lương, tạm ngừng đóng BHXH trong một số năm để về quê kết hôn, sinh con và chăm sóc con nhỏ. Nếu quy định về hưởng BHXH một lần không chặt chẽ, có thể khiến một bộ phận lao động nữ quyết định hưởng BHXH một lần để đáp ứng các nhu cầu ngắn hạn, trước mắt nhưng sẽ ảnh hưởng đến quyền lợi lâu dài về ASXH của họ khi về già. Do có các quy định này, số lượng người lao động nghỉ hưởng BHXH một lần đang có xu hướng gia tăng qua các năm. Trong giai đoạn 2016-2020, trung bình mỗi năm có gần 750 nghìn người tham gia BHXH rời khỏi hệ thống (lao động nữ chiếm gần 55%), chiếm trên 5% tổng số người tham gia BHXH. Phần lớn người hưởng BHXH một lần sau 1 năm ngừng đóng BHXH là lao động nữ trong độ tuổi còn trẻ. Năm 2019, khoảng 69% đối tượng hưởng BHXH một lần sau 01 năm ngừng đóng BHXH là lao động nữ dưới 35 tuổi.

- Quy định về điều kiện tuổi đời để hưởng lương hưu vẫn chênh lệch 5 năm giữa nam và nữ là chưa phù hợp với xu hướng chung và không bảo đảm tính thống nhất của hệ thống pháp luật. Luật BHXH năm 2014 quy định điều kiện để hưởng lương hưu của BHXH bắt buộc và tự nguyện là nam đủ 60 tuổi và nữ đủ 55 tuổi, vẫn chênh lệch 5 tuổi giữa nam nữ. Trong khi Bộ luật Lao động năm 2019, như đã nêu trên, đã điều chỉnh tăng tuổi nghỉ hưu và thu hẹp khoảng cách tuổi nghỉ hưu của nam và nữ chỉ còn 2 năm.

- Quy định về điều chỉnh lương hưu theo cùng một tỷ lệ sẽ tiếp tục gia tăng khoảng cách mức sống giữa những người hưởng chế độ hưu trí ở các thời kỳ khác nhau. Do mức lương hưu của lao động nữ luôn thấp hơn lao động nam nên quy định nêu trên sẽ khiến cho khoảng cách về tiền lương hưu thực tế và mức sống thực tế của nam và nữ cũng sẽ tiếp tục gia tăng.

- Hạn chế của loại hình BHXH tự nguyện là chỉ có 2 chế độ hưu trí và tử tuất, chưa đáp ứng nhu cầu của lao động nữ về các chế độ ngắn hạn như thai sản, ốm đau,… Đây là một trong những lý do khiến BHXH tự nguyện chưa thu hút lao động, đặc biệt là lao động nữ làm việc ở khu vực phi chính thức tham gia vào hệ thống, là trở ngại để thực hiện mở rộng đối tượng BHXH.

- Hạn chế cơ bản của chế độ thai sản ở Việt Nam là diện bao phủ thấp, chưa bảo đảm công bằng cho người lao động nữ làm việc ở các khu vực kinh tế khác nhau. Chỉ có người lao động có việc làm chính thức, có quan hệ lao động mới được tham gia BHXH bắt buộc và được hưởng chế độ thai sản, trong khi người lao động tham gia BHXH tự nguyện chưa được hưởng chế độ này. Xét về quy mô dân số, có khoảng 70% phụ nữ chưa được tham gia BHXH bắt buộc (ILO, 2021) và do vậy sẽ không được hưởng chế độ thai sản, họ không có nguồn thu nhập thay thế trong thời gian nghỉ làm việc để sinh con, nếu như không có sự hỗ trợ của gia đình. Vì vậy, mở rộng diện bao phủ chế độ thai sản là yêu cầu cấp bách từ cả phương diện ASXH và bình đẳng giới.

Khuyến nghị hàm ý chính sách BHXH về khía cạnh bình đẳng giới

Mở rộng diện bao phủ BHXH cần quan tâm tới khu vực có nhiều lao động nữ chưa tham gia BHXH.

Một mặt vẫn tiếp tục điều chỉnh, bổ sung những nhóm đối tượng có đủ khả năng tham gia BHXH bắt buộc, bao gồm: Chủ hộ kinh doanh cá thể; người quản lý doanh nghiệp; người tham gia “kinh tế chia sẻ” phát sinh các quan hệ lao động mới. Mặt khác, cần tiếp tục điều chỉnh các quy định chính sách, chế độ kịp thời phù hợp, sát với nhu cầu và khả năng tham gia của các nhóm đối tượng chiếm tỷ lệ cao trong lực lượng lao động nhưng có tỷ lệ tham gia BHXH còn thấp, đặc biệt là nhóm nữ trong các khu vực có quan hệ lao động; lao động nông thôn; lao động tự làm; lao động gia đình…

Sửa đổi, bổ sung chính sách BHXH cần quan tâm tới nhu cầu và khả năng tham gia của các nhóm nữ, gồm:

Chế độ hưu trí của BHXH tự nguyện với điều kiện 20 năm đóng BHXH để được hưởng chế độ hưu trí hàng tháng là khá cứng nhắc, không phù hợp với khả năng sáng tạo và duy trì việc làm của nền kinh tế cho người lao động. Cần có sự điều chỉnh theo hướng linh hoạt hơn để người tham gia có thể chủ động đóng góp cho hệ thống BHXH để được hưởng hưu trí trong tương lai khi về già.

Để tăng sức hấp dẫn của chính sách cũng như đáp ứng nhu cầu của người tham gia là những đối tượng không có quan hệ lao động cần thiết phải xem xét quy định thêm một số chế độ ngắn hạn, đặc biệt chế độ thai sản trong BHXH tự nguyện để đáp ứng nhu cầu khi có rủi ro xảy ra thì được bảo hiểm chi trả, hỗ trợ kịp thời đối với phụ nữ đang tham gia BHXH tự nguyện, góp phần bảo đảm mọi phụ nữ được bình đẳng trong tham gia và thụ hưởng chế độ thai sản.

Sửa đổi quy định về hưởng BHXH một lần để hạn chế sự gia tăng đối tượng BHXH rời khỏi hệ thống (bao gồm nhiều lao động nữ).

Quy định cho phép hưởng BHXH một lần, như đã nêu, không khuyến khích người lao động tích lũy các khoảng thời gian đóng BHXH để hưởng lương hưu hàng tháng khi hết tuổi lao động, không đáp ứng mục tiêu của BHXH, ảnh hưởng tới ASXH khi về già của chính bản thân người lao động. Do vậy, cần phải sửa đổi các quy định hưởng BHXH một lần theo hướng chặt chẽ hơn, làm sao hạn chế thấp nhất số người hưởng BHXH một lần, tiến tới chỉ giải quyết đối với người lao động đã hết tuổi lao động nhưng không đủ điều kiện hưởng lương hưu mà không có nhu cầu đóng tiếp, hoặc quy định trường hợp chưa hết tuổi lao động mà nhận BHXH một lần thì mức hưởng thấp hơn.

+ Chế độ thai sản: Gia tăng hơn nữa các quy định nghỉ thai sản đối với nam giới theo hướng giảm chính sách tập trung vào người mẹ sang hướng có cả bố và mẹ cùng tham gia chăm sóc con.

+ Chế độ hưu trí: Sửa đổi điều kiện hưởng chế độ hưu trí theo hướng linh hoạt hơn thời gian và hình thức đóng BHXH, phù hợp với khả năng tham gia của lao động nữ. Các phương án điều chỉnh lương hưu trong tương lai cần tính đến điều chỉnh cách tính tỷ lệ hưởng lương hưu từ dựa trên tiền lương sang dựa trên thu nhập từ lao động./.

 

Tác giả (nguồn): Mạc Văn Tiến,
Cập nhật lúc: 18/04/2022, 17:32