banner

Sửa đổi Luật Bảo hiểm y tế để phù hợp thực tiễn và tiến tới bảo hiểm y tế toàn dân

Qua nhiều lần sửa đổi, bổ sung, chính sách BHYT phát triển mạnh mẽ, chế độ ngày càng hoàn thiện và thể hiện đúng vai trò của BHYT trong hệ thống an sinh xã hội. Tuy nhiên, việc thực hiện chính sách BHYT đã bộc lộ nhiều bất cập cần sửa đổi để mọi người dân đều được thụ hưởng quyền an sinh về BHYT.

Ảnh minh họa: Sưu tầm internet

Tỷ lệ người tham gia BHYT ngày càng tăng

Sau hơn 15 năm triển khai thực hiện Luật BHYT, mục tiêu dần tiến tới BHYT toàn dân đang bước đầu có kết quả. Đến nay, toàn quốc có gần 90% dân số tham gia BHYT (trong đó có 37 tỉnh có tỷ lệ bao phủ trên 90% dân); quỹ BHYT dần trở thành một trong những nguồn lực tài chính quan trọng, trở thành nguồn tài chính chủ lực và đáp ứng được nhu cầu khám, chữa bệnh (KCB) ngày càng cao. Song hành với độ bao phủ tăng, công tác KCB BHYT được triển khai đồng bộ, tạo điều kiện cho người dân tiếp cận dễ dàng với các dịch vụ y tế (DVYT) ở tất cả các tuyến. Đặc biệt, quỹ BHYT hoạt động ngày càng chuyên nghiệp và hiệu quả, được cộng đồng quốc tế đánh giá cao. Trong giai đoạn 2008 - 2018, trung bình mỗi năm có 132 triệu lượt KCB BHYT với tổng chi phí bình quân 47,5 nghìn tỷ đồng/năm. Từ năm 2019 đến nay, trung bình mỗi năm có trên 170 triệu lượt KCB BHYT với tổng chi phí bình quân khoảng 100 nghìn tỷ đồng/năm. Nguồn lực từ quỹ BHYT đã trở thành một nguồn lực kinh tế quan trọng và có cơ cấu, cấu phần ngày càng có ý nghĩa trong việc chăm sóc sức khỏe người dân.

Ông Kidong Park - Trưởng Đại diện WHO tại Việt Nam nhận định, BHYT toàn dân là mục tiêu chung của bất kỳ hệ thống y tế nào trên thế giới, trong đó có Việt Nam. Để đạt được mục tiêu này, việc sửa đổi, hoàn thiện những cơ chế tài chính y tế đóng vai trò vô cùng quan trọng. Trong đó, BHYT toàn dân được xem là biện pháp hữu hiệu góp phần bảo đảm khả năng tiếp cận các DVYT thiết yếu và bảo vệ tài chính cho người dân. Đối với mục tiêu BHYT bền vững, Việt Nam đã bao phủ khoảng 90% dân số tham gia BHYT - đây là thành tích đáng ghi nhận. Tuy nhiên, để đạt được mục tiêu BHYT toàn dân, Việt Nam cần phải bao phủ nốt 10% dân số còn lại, đồng thời duy trì mức bao phủ hiện tại một cách bền vững. Bên cạnh đó, Việt Nam cũng cần thực hiện chức năng bảo vệ tài chính BHYT một cách mạnh mẽ hơn. Bởi tỷ lệ thanh toán từ tiền túi của người dân trong KCB vẫn còn cao và được dự báo có thể tăng trong thời gian tới. Đối mặt với những thách thức ấy, Việt Nam cần suy nghĩ về cách thức đổi mới, tiếp cận các khu vực phi chính thức - tức là làm cho phạm vi bao phủ BHYT không phụ thuộc vào công việc chính thức, để mọi người dân Việt Nam, bất kể họ làm gì, ở đâu… vẫn sẽ được tham gia BHYT. “BHXH Việt Nam cần trở thành “bên mua” chiến lược của dịch vụ chăm sóc sức khỏe cho người dân trong hệ thống BHYT, qua đó bảo vệ tài chính cho người dân và giúp quỹ BHYT hạn chế tình trạng bội chi và lãng phí” - ông Kidong Park chia sẻ.

Dưới góc độ khác, Đại biểu Quốc hội Trần Khánh Thu (đoàn Thái Bình), Luật BHYT năm 2014 đã đánh dấu một bước tiến quan trọng trong hệ thống pháp luật về BHYT, là cơ sở pháp lý cao nhất để thể chế hóa quan điểm, định hướng của Đảng và Nhà nước về phát triển BHYT và thực hiện mục tiêu BHYT toàn dân… Sau khi Luật BHYT đi vào cuộc sống đã khẳng định tính đúng đắn, tính phù hợp trong lựa chọn chính sách tài chính, y tế thông qua BHYT - một trong những chính sách an sinh xã hội ưu việt của Đảng và Nhà nước. Việc lựa chọn các phương thức thanh toán phù hợp đối KCB BHYT mới, thanh toán định xuất, thanh toán nhóm chẩn đoán giúp các cơ sở y tế chủ động hơn trong điều chỉnh kinh phí, nâng cao trách nhiệm của các bên liên quan trong quản lý, sử dụng hiệu quả nguồn kinh phí BHYT. Đồng thời, công tác quản lý nhà nước về BHYT ngày càng được tăng cường, công tác tuyên truyền BHYT đã đi vào chiều sâu, đổi mới về hình thức và đã huy động được sự tham gia của cả hệ thống chính trị. Đặc biệt, quỹ BHYT trở thành nguồn tài chính cơ bản phục vụ cho hoạt động của các cơ sở y tế.

Tuy nhiên, quá trình triển khai Luật BHYT cũng còn gặp nhiều khó khăn, thách thức. Trong đó, Việt Nam đang đối mặt tốc độ già hóa dân số nhanh, mô hình bệnh tật thay đổi, y học ngày càng phát triển. Một số nội dung trong luật chưa cụ thể, không rõ ràng, có sự mâu thuẫn trong nội tại văn bản luật; các quy định về phạm vi, quyền lợi cũng như mức BHYT chưa đồng nhất. Đặc biệt, khó khăn trong việc mở rộng đối tượng tham gia BHYT một cách bền vững; mức đóng BHYT còn thấp trong khi quyền lợi hưởng luôn được mở rộng, điều chỉnh theo hướng nâng cao; tỷ lệ chi trực tiếp từ người sử dụng các dịch vụ y tế cao… Trong khi đó, Việt Nam đặt mục tiêu bao phủ 95% dân số tham gia BHYT vào năm 2025; đảm bảo tốt hơn nữa quyền lợi của người tham gia BHYT, sử dụng hiệu quả và cân đối quỹ BHYT.

Điều chỉnh chính sách để phù hợp với thực tiễn

Sau nhiều lần lấy ý kiến đóng góp, hiện Dự thảo Luật BHYT (sửa đổi) có 12 Chương với 59 Điều. Thay đổi lớn nhất ở Dự thảo này là đề xuất điều chỉnh các mức hỗ trợ với người tham gia BHYT hộ gia đình và chỉ giữ lại 2 mức đóng. Cụ thể, mức đóng BHYT hộ gia đình với người thứ nhất tối đa bằng 6% mức lương cơ sở, từ người thứ hai trở đi bằng 80% mức đóng của người thứ nhất.

Đồng thời, Điều 27, Dự thảo Luật đề xuất giảm mức hưởng chi trả BHYT của một số nhóm đối tượng từ 100% hiện hành xuống 95%, gồm: Người có công với cách mạng, cựu chiến binh; trẻ dưới 6 tuổi; người nhận trợ cấp bảo trợ xã hội hàng tháng; người từ đủ 80 tuổi trở lên; hộ nghèo; người dân tộc thiểu số tại vùng khó khăn; người sống tại khu vực đặc biệt khó khăn, xã đảo, huyện đảo; thân nhân của người có công… Mặt khác, Dự thảo Luật BHYT (sửa đổi) bổ sung thêm một số dịch vụ KCB được BHYT chi trả, như: Điều trị dự phòng bệnh tật; dụng cụ, phương tiện hỗ trợ phục hồi chức năng; khám thai định kỳ; sàng lọc trước và sau sinh, bệnh lây truyền từ mẹ sang con; sàng lọc, chẩn đoán sớm bệnh mạn tính; khám sức khỏe định kỳ…

Chia sẻ về đề xuất tăng mức đóng BHYT tại Dự thảo Luật BHYT (sửa đổi), ông Phan Văn Toàn - Phó Vụ trưởng Vụ BHYT (Bộ Y tế) cho biết, Dự thảo lần 1 này dự kiến sẽ trình Quốc hội vào đầu năm 2023 nên tới đây Bộ Y tế và các bộ, ngành liên quan sẽ tổ chức các hội thảo để lấy ý kiến. Mục đích là sửa đổi các quy định để phù hợp với thực tiễn ở nước ta và bảo đảm quyền lợi tốt nhất cho người tham gia. Thay đổi lớn nhất là đề xuất điều chỉnh các mức hỗ trợ với người tham gia BHYT hộ gia đình và chỉ giữ lại 2 mức đóng. Bởi sau khi rà soát cho thấy mức đóng như hiện nay quá thấp, nếu duy trì thì quỹ BHYT sẽ không bảo đảm và về lâu dài sẽ mất cân đối thu - chi. “Tuy nhiên, kể cả với việc điều chỉnh này thì chủ trương, định hướng của Đảng, Chính phủ là chuyển từ ngân sách nhà nước cấp cho bệnh viện sang hỗ trợ người dân tham gia BHYT. Tức là sẽ tăng mức hỗ trợ đóng BHYT cho các nhóm đối tượng là nông, lâm, ngư, diêm nghiệp có mức sống trung bình khi tham gia BHYT” - ông Toàn cho biết.

Cũng liên quan đến vấn đề này, bà Trịnh Thị Tú Anh - Ủy viên Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi Trường của Quốc hội cho biết, thời gian qua còn một số vấn đề về BHYT và KCB chưa được giải quyết, như: Độ bao phủ tuy rộng nhưng phát triển thiếu tính bền vững, nhóm đối tượng tham gia chưa đồng đều; mức đóng BHYT xét trên thu nhập là cao nhưng lại khá thấp so với nhu cầu thực tiễn; chất lượng KCB BHYT cho người dân chưa cao; chưa đảm bảo hài hòa năng lực giữa các cơ sở KCB. Thêm vào đó, Việt Nam đang đối mặt với tốc độ già hóa dân số nhanh, mô hình bệnh tật thay đổi, nền y học thế giới và nước nhà đang thay đổi mạnh mẽ thì việc sửa đổi kịp thời Luật BHYT là cơ hội để Việt Nam xây dựng chính sách quản lý và duy trì hiệu quả cơ chế tài chính công trong công tác chăm sóc sức khỏe cũng như tăng cường và mở rộng khả năng tiếp cận, lựa chọn của bệnh nhân với các phương pháp điều trị mới.

“Do vậy, để hoàn thiện hơn, Luật sửa đổi cần bổ sung về chính sách mở rộng đối tượng tham gia BHYT (cần rà soát tất cả các đối tượng đang được quy định tại Dự thảo lần này và các văn bản quy phạm pháp luật khác để không bỏ sót đối tượng). Một số nội dung và giải pháp thực hiện chính sách này còn chưa rõ ràng như mở rộng đối tượng tham gia đến thân nhân người lao động và được Nhà nước hỗ trợ 30% mức đóng nhưng cần nêu rõ chủ thể đóng 70% còn lại và xác định người lao động thuộc khu vực nào được áp dụng chính sách này. Về việc mở rộng quyền lợi y tế, cần cân nhắc việc mở rộng phạm vi được hưởng trong mối tương quan với khả năng cân đối của quỹ BHYT và đảm bảo tính xã hội, chia sẻ rủi ro của BHYT” - bà Tú Anh phân tích./.

Tác giả (nguồn): Nguyệt Hà
Cập nhật lúc: 15/07/2022, 14:28